Bệnh sử

Tin Tức Sức Khỏe

Một thăm khám đầy đủ phải bao gồm khai thác bệnh sử chi tiết. Trường hợp không khai thác được từ phía bệnh nhân thì nhất thiết phải khai thác qua gia đình và y tế tuyến trước để nắm được tình  trạng sinh bệnh lý và cơ chế chấn thương. Có thể dùng công thức dễ nhớ AMPLE để khai thác bệnh sử như sau:

A: Allergies – Tiền sử về dị ứng.
M: Medications currently used – Các thuốc hiện bệnh nhân đang dùng.
P: Past illnesses/Pregnancy – Tiền sử bệnh tật/Thai nghén.
L: Last meal – Bữa ăn cuối của bệnh nhân.
E: Events/Environment related to the injury- Các sự kiện/ Môi trường liên quan đến thương tích của bệnh nhân.
– Tình trạng của bệnh nhân bị ảnh hưởng rất nhiều bởi cơ chế của chấn thương. Các nhân viên y tế trước bệnh viện có thể cung cấp những thông tin có giá trị về cơ chế chấn thương, và cung cấp các ghi chép chi tiết của họ cho bác sỹ tiếp nhận bệnh nhân.

– Có một số tổn thương có thể dự đoán được dựa vào hướng đi và cường độ của lực tác động. Chấn thương thường được chia ra làm hai loại chính là chấn thương kín và chấn thương hở (xuyên). Loại chấn thương và mức độ của nó có thể dự đoán được dựa vào cơ chế chấn thương, độ tuổi và các hoạt động của bệnh nhân.

a. Chấn thương kín:

– Chấn thương kín thường gặp trong tai nạn va chạm ô tô, ngã, và các chấn thương liên quan đến giao thông, giải trí và nghề nghiệp khác trong đó ổ tổn thương hay các khoang kín của cơ thể không thông với môi trường bên ngoài.

b. Chấn thương hở:

– Là các ổ tổn thương hay các khoang kín của cơ thể bị phá vỡ và có sự thông thương với môi trường bên ngoài. Các yếu tố quyết định loại và mức độ chấn thương và cách thức xử trí tiếp theo bao gồm vùng cơ thể bị tổn thương, các cơ quan, tổ chức gần với đường đi của vật thể đâm xuyên, và tốc độ của vật gây sát thương.

– Do vậy, tốc độ, khẩu kính, hướng đi, khoảng cách của viên đạn… là những yếu tố quan trọng để dự đoán phạm vi của tổn thương.

c. Các chấn thương do bỏng và lạnh:

– Bỏng là một loại tổn thương đáng kể khác của chấn thương có thể xảy ra đơn lẻ hay có thể đi kèm với các chấn thương kín hay hở do hậu quả của các vụ cháy nổ hay phát tác của hoả khí Các tổn thương do hít phải hơi nóng và ngộ độc khí các bon mô nô xít (CO) thường làm phức tạp thêm các chấn thương do bỏng.

– Do đó, điều quan trọng là phải biết được hoàn cảnh xảy ra bỏng, đặc biệt là những hiểu biết về môi trường nơi xảy ra bỏng (kín hay mở), các chất cháy (nhựa, các chất hoá học…) và các chấn thương kèm theo có thể xảy ra là rất quan trọng cho việc điều trị bệnh nhân.

– Hiện tượng hạ nhiệt độ nhanh hay từ từ mà cơ thể không được bảo vệ khỏi quá trình mất nhiệt dẫn đến các tổn thương do lạnh toàn thân hay một phần cơ thể. Mất nhiệt đáng kể có thể diễn ra ở nhiệt độ vừa phải (15-20o C) nếu quần áo bị ướt, giảm hoạt động, và/hoặc co mạch do rượu hay thuốc làm ức chế khả năng giữ nhiệt của bệnh nhân. Các thông tin về bệnh sử này có thể thu thập từ các nhân viên y tế trước bệnh viện.

d. Các môi trường nguy hiểm:

– Tiền sử tiếp xúc với các chất hoá học, độc chất, và phóng xạ là rất quan trọng vì hai lý do sau: thứ nhất, các chất này có thể gây ra suy giảm các chức năng của phổi, tim, hay các cơ quan bên trong cơ thể ở bệnh nhân chấn thương; thứ hai, các chất này cũng có thể gây ra các mối nguy hiểm tương tự cho các nhân viên y tế. Cần liên lạc ngay với các trung tâm phòng chống độc.

Copy ghi nguồn: http://brabantpharma.com

Link bài viết: Bệnh sử

Không có phản hồi

Trả lời

Thư điện tử của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Tin Tức Sức Khỏe
Rối loạn nước – điện giải

Phân bố dịch cơ thể – Dịch ~50%–60% toàn bộ trọng lượng cơ thể – Các ion hoà tan gọi là điện giải – Các khoảng dịch – Nội bào + Lượng nước thay đổi tuỳ thuộc mô: Mỡ hay cơ + Cách khu vực ngoại bào bằng mang vận …

Tin Tức Sức Khỏe
Những lưu ý về Turp Syndrome

Điều trị hội chứng TURP – Quan trọng nhất trong điều trị là phải theo dõi tim phổi, thận và biến chứng thần kinh kết hợp với hội chứng TURP. – Điều trị ban đầu bằng việc đảm bảo oxy, thông khí và tuần hoàn. Cần chú ý đến những …

Tin Tức Sức Khỏe
Những điều cần biết về Turp Syndrome

Ringer lactat và NaCl 0,9% không thể sử dụng do các ion có khả năng dẫn điện. – Các dung dịch tưới rửa phổ biến nhất được sử dụng là glycine 1,5%(230 mOsm / L) hoặc hỗn hợp sorbitol 2,7% + mannitol 0,54% (195 mOsm / L). * Hội chứng …