Điều trị bệnh sùi mào gà sinh dục

Sùi mào gà sinh dục

Nguyên tắc chung

  • Xét nghiệm phát hiện HPV và định chủng.
  • Cần khám nghiệm các bệnh lây truyền qua đường tình dục khác.
  • Khám và điều trị bạn tình.
  • Tư vấn, giáo dục sức khỏe về chẩn đoán, các phương pháp điều trị có thể sử dụng cho người bệnh, khả năng bệnh có thể tái phát, mối liên quan của bệnh với ung thư và khả năng lây nhiễm bệnh.

Điều trị cụ thể

  • Việc lựa chọn phương pháp điều trị sùi mào gà sinh dục cần phải cân nhắc về tuổi người bệnh, vị trí thương tổn, số lượng, kích thước tổn thương và khả năng chuyên môn cũng như trang thiết bị của cơ sở điều trị.
  • Các thuốc điều trị được phân làm hai loại:

Người bệnh tự bôi

+ Podophylotoxin 0,5% dạng dung dịch hoặc kem.

  • Đây là thuốc chống phân bào, có thể bôi mà không cần rửa và ít gây độc toàn thân.
  • Thuốc bôi ngày 2 lần bằng tăm bông, bôi 3 ngày liên tiếp rồi nghỉ 4 ngày, điều trị một đợt 4 tuần.

+ Kem imiquimod 5% kích thích sản xuất interferon và các cytokin.

  • Người bệnh bôi bằng tay 3 lần/tuần, tới 16 tuần.
  • Sau khi bôi 6-10 giờ phải rửa bằng nước và xà phòng nhẹ.
  • Hướng dẫn người bệnh bôi đúng cách trong lần đầu và yêu cầu khám định kỳ để theo dõi và đánh giá hiệu quả điều trị.

Hai loại thuốc này không sử dụng bôi thương tổn ở quanh hậu môn, trực tràng, niệu đạo, âm đạo và cổ tử cung. Không có dữ liệu về sự an toàn đối với phụ nữ có thai.

Điều trị tại cơ sở y tế

+ Bôi podophyllin là một chất chống phân bào, dung dịch 10-25% trong cồn ethanol hoặc cồn benzoin.

  • Bôi để khô, rửa sạch sau khoảng 1-4 giờ.
  • Bôi 1-2 lần/tuần, trong 6 tuần.
  • Một lần bôi tối đa 0,5 ml hoặc trên một diện tích thương tổn <10 cm2 cho một lần điều trị để hạn chế độc tính của thuốc như làm ức chế tủy xương.
  • Không dùng cho phụ nữ có thai, cho con bú.

+ Trichloroacetic (TCA) hoặc bichloroacetic (BCA) 80-90% được dùng bôi các thương tổn nhỏ, ẩm ướt.

  • Thầy thuốc bôi cho người bệnh hàng tuần, trong tối đa 6 tuần.
  • Cần phải cẩn thận khi bôi để tránh tổn hại vùng da-niêm mạc lành.

+ Dùng bicarbonnat hay vaselin bôi xung quanh thương tổn để bảo vệ vùng da xung quanh.

+ Các phương pháp điều trị khác bao gồm nạo thương tổn, phẫu thuật cắt bỏ thương tổn, phẫu thuật điện, laser, tiêm interferon hoặc 5-fluorouracin.

  • Các phẫu thuật đơn giản bằng dao, kéo hoặc laser CO2, đốt điện cần phải gây tê.
  • Phương pháp này chỉ định cho các thương tổn lớn, cho phụ nữ có thai.
  • Đốt điện chống chỉ định cho người bệnh mắc máy tạo nhịp tim, thương tổn ở gần hậu môn.

+ Điều trị lạnh làm phá hủy thương tổn bệnh và một vùng nhỏ tổ chức xung quanh nên được chỉ định cho các thương tổn nhỏ. Điều trị mỗi tuần 1-2 lần trong 4- 6 tuần. Sử dụng đầu áp lạnh hoặc phun nitơ lỏng vào thương tổn. Có thể cần gây tê vì điều trị lạnh gây đau. Hiệu quả điều trị và sự an toàn phụ thuộc vào kỹ năng và kinh nghiệm của thầy thuốc.

+ Tiêm interferon hoặc 5-fluorouracin/cấy epinephrine gel có hiệu quả trong điều trị các thương tổn nhỏ và ít. Tuy nhiên, có một số tác dụng phụ và giá thành đắt.

+ Tất cả các trị liệu sùi mào gà đều có thể gây đau, kích thích hoặc ảnh hưởng toàn thân. Nếu sau đợt điều trị 6 tuần thất bại, cần chuyển cách điều trị khác. Cũng cần sinh thiết thương tổn hoặc chuyển chuyên gia.

 

Không có phản hồi

Trả lời

Thư điện tử của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Tin Tức Sức Khỏe
Rối loạn nước – điện giải

Phân bố dịch cơ thể – Dịch ~50%–60% toàn bộ trọng lượng cơ thể – Các ion hoà tan gọi là điện giải – Các khoảng dịch – Nội bào + Lượng nước thay đổi tuỳ thuộc mô: Mỡ hay cơ + Cách khu vực ngoại bào bằng mang vận …

Tin Tức Sức Khỏe
Những lưu ý về Turp Syndrome

Điều trị hội chứng TURP – Quan trọng nhất trong điều trị là phải theo dõi tim phổi, thận và biến chứng thần kinh kết hợp với hội chứng TURP. – Điều trị ban đầu bằng việc đảm bảo oxy, thông khí và tuần hoàn. Cần chú ý đến những …

Tin Tức Sức Khỏe
Những điều cần biết về Turp Syndrome

Ringer lactat và NaCl 0,9% không thể sử dụng do các ion có khả năng dẫn điện. – Các dung dịch tưới rửa phổ biến nhất được sử dụng là glycine 1,5%(230 mOsm / L) hoặc hỗn hợp sorbitol 2,7% + mannitol 0,54% (195 mOsm / L). * Hội chứng …